Nhân quyền ở Việt Nam: Cần nhìn nhận thế nào?

2:27 AM |

         Ngày 02 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội, trong phần mở đầu Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Công hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh có trích dẫn 02 đoạn trong Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của nước Pháp, rằng: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Tuyên ngôn độc lập của Mỹ) và “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp).
          Khi Bản Tuyên ngôn độc lập được đọc lên, toàn thế giới không chỉ công nhận một nước Việt Nam độc lập, chủ quyền, thống nhất mà qua việc trích dẫn trên, cộng đông quốc tế đã phải ngả mũ thán phục tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước ta trong việc xây dựng và bảo vệ các giá trị về quyền con người. Sự thật là 03 năm sau, năm 1948 trong Bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp Quốc, tại Điều 1 đã dường như nhắc lại nguyên văn những nội dung đó: “Tất cả mọi người đều được tự do và bình đẳng. Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu”.
          Thực hiện đúng theo đường lối xây dựng đất nước từ ngày đầu thành lập cũng như tôn trọng các giá trị phổ quát được cộng đồng quốc tế ghi nhận về quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã luôn chú trọng xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền con người và nỗ lực nhằm đảm bảo thực hiện các quy định đó. Từ bản Hiến pháp năm 1946 cho đến Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), mới đây là Hiến pháp năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn, thi hành, Nhà nước ta đã luôn nỗ lực ghi nhận và cụ thể hóa các quyền cơ bản của con người, tạo cơ sở để tất cả mọi người đang sinh sống trên đất nước Việt Nam được bảo đảm và thực hiện quyền lợi chính đáng của mình. Để ghi nhận thành tựu của Việt Nam trong vấn đề thực hiện nhân quyền, năm 2013 các nước đã bầu chọn Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016. Một sự ghi nhận xứng đáng cho những nỗ lực của Nhà nước ta vì một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh!
          Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn đang diễn ra hiện nay đó là một số tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đang phủ nhận giá trị nhân quyền mà nước ta đang có. Mà nguyên nhân của hành động này xuất phát từ việc số cá nhân, tổ chức đó đang tuyệt đối hóa quyền con người, cho rằng quyền con người là thứ bất khả xâm phạm.

          Tại Điều 29 của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 ghi rõ: “Mỗi người trong khi hưởng thụ các quyền và tự do cá nhân, chỉ phải chịu hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo việc thừa nhận và tôn trọng đối với quyền và tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Khoản 3, Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 quy định về quyền tự do tôn giáo đã xác định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng”. Tương tự như vậy, Khoản 3, Điều 19 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị cũng đưa ra những hạn chế đối với quyền tự do ngôn luận. Như vậy, theo quan điểm của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế: KHÔNG CÓ TỰ DO TUYỆT ĐỐI, VÔ CHÍNH PHỦ. Mọi hành vi hoạt động tôn giáo, lợi dụng quyền tự do ngôn luận gây nguy hại đến an ninh quốc gia, an toàn xã hội, vi phạm đạo đức, quyền của người khác… đều phải bị nghiêm cấm và trừng trị theo quy định của pháp luật.
          Việc nêu ra những vấn đề nói trên, là để cho mọi người hiểu rõ hơn về các giá trị nhân quyền mà Nhà nước ta đang xây dựng và bảo vệ. Ngoài ra là để các bạn hiểu rằng: sẽ không bao giờ tồn tại cái gọi là “người bất đồng chính kiến”, “nhà hoạt động vì môi trường” bị bắt, xử lý trên đất nước Việt Nam (như lời lẽ của các đối tượng phản động đang rêu rao trên mạng khi cơ quan tố tụng bắt và xử lý các trường hợp như: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Lê Đình Lượng, Nguyễn Văn Oai…) mà chỉ có đối tượng đã thực hiện hành vi phạm tội bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật. Và cũng sẽ không bao giờ có chuyện một tổ chức tôn giáo nào trên đất nước Việt Nam hoạt động ngoài sự quản lý nhà nước (như ý muốn của Hội đồng Giám mục Việt Nam trong “Bản nhận định về Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016” rằng muốn hoạt động mà không cần phải thông báo chính quyền). Tất cả cá nhân, tổ chức trên lãnh thổ Việt Nam phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đó là cơ sở để đảm bảo nhân quyền cho mọi người!